Lừa đảo chiếm đoạt tài sản không chỉ là một hành vi vi phạm đạo đức nghiêm trọng mà còn là tội danh được quy định rõ ràng trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Với sự phát triển của xã hội, loại hình tội phạm này đang gây ra những hệ lụy nặng nề cho trật tự an toàn xã hội và nền kinh tế. Để hiểu rõ hơn về cấu thành tội phạm, khung hình phạt cũng như cách thức xử lý các hành vi này theo quy định của pháp luật hiện hành hãy cùng Luật Vì Chân Lý Themis giúp bạn tìm hiểu vấn đề này.

1, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu như thế nào?
Theo Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 có thể hiểu lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi áp dụng các hình thức, thủ đoạn gian dối để chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin tưởng và giao tài sản nhằm mục đích chiếm đoạt.
Tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được thực hiện với lỗi cố ý, người thực hiện hành vi nhằm mục đích chuyển đổi các tài sản hợp pháp của người khác thành tài sản của cá nhân người phạm tội.
Điển hình gần đây nhất cho tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vụ việc liên quan đến việc hàng chục khách hàng tố cáo bị lừa mua nhà ở xã hội. Theo đó, môi giới của Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Tân Nhật Phát đã giới thiệu, hứa hẹn khách hàng đóng tiền “chênh” để được mua căn hộ nhà ở xã hội tại các dự án như Ecohome (Bắc Từ Liêm), NHS Trung Văn (Nam Từ Liêm), NO1 Hạ Đình (Thanh Trì)… Tuy nhiên, đến thời hạn cam kết, khách hàng không được mua nhà ở xã hội, môi giới Công ty Tân Nhật Phát thì "biến mất". Khách hàng tìm đến công ty cũng không đòi lại được tiền cọc. Các bị hại phản ánh, số tiền mỗi khách hàng bị lừa từ vài trăm triệu đồng đến hơn 1 tỷ đồng. Tổng cộng, số tiền hơn 20 khách hàng bị chiếm đoạt là hơn 19 tỷ đồng.
Đối tượng Triệu Văn Quân ở Thái Nguyên cũng vừa bị Cơ quan Cảnh sát điều tra thi hành lệnh bắt khẩn cấp và ra quyết định tạm giữ hình sự. Triệu Văn Quân không phải là Luật sư nhưng đã tự xưng là Luật sư. Đối tượng lợi dụng sự lo lắng của người dân trong các tranh chấp, thủ tục đất đai phức tạp và đã hứa hẹn với nạn nhân về việc có thể giải quyết các thủ tục đó để nhận về số tiền 31 triệu đồng. Thực chất, đây là hành vi đưa ra thông tin giả mạo về năng lực chuyên môn và khả năng can thiệp pháp lý. Sau khi nhận tiền, đối tượng không thực hiện bất kỳ hoạt động pháp lý nào như đã cam kết. Đây là một hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Hay như vụ việc hai vợ chồng đối tượng Phạm Thị Như Quỳnh (1994) và Phan Anh Duy (1991) khi chồng giả danh lãnh đạo công an, vợ tự xưng nhân viên ngân hàng để lừa đảo. Từ các thông tin bịa đặt về chức vụ, mối quan hệ trong ngành, vợ chồng Quỳnh – Duy hứa hẹn có thể giúp giải quyết nhiều công việc theo yêu cầu của người quen, với điều kiện phải chuyển tiền trước và cam kết nếu không làm được sẽ hoàn trả. Tuy nhiên, sau khi nhận tiền, cả hai chiếm đoạt để sử dụng vào mục đích cá nhân, không thực hiện hoặc chỉ làm một số việc nhỏ nhằm kéo dài thời gian và tiếp tục yêu cầu chuyển thêm tiền.
2, Cơ sở pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
2.1, Cấu thành tội phạm
Để xác định các đối tượng phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì cần làm rõ các yếu tố cấu thành của tội phạm này, cụ thể:
- Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự.
- Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Trong các vụ việc ví dụ ở trên, các bị can đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của những bị hại, đôi khi lên tới cả tỷ đồng.
- Mặt chủ quan: Thông thường, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình thực hiện hành vi là gian dối, trái pháp luật. Đồng thời nhận thức rõ hành vi này gây nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Bên cạnh đó, một điểm cần lưu ý, xét về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì thường nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm để phân biệt với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Vì đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì ý định chiếm đoạt tài sản phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định. Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì ý thức chiếm đoạt phải có trước thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng (như tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).
Trong vụ việc mua nhà ở xã hội, các đối tượng dù biết Chủ đầu tư sẽ không có suất ngoại giao nào nhưng vẫn cam kết với khách hàng rằng có suất ngoại giao để chiếm đoạt tiền của khách hàng.
- Mặt khách quan:
Thứ nhất, cần làm rõ về hành vi phạm tội: Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản yêu cầu phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Việc dùng thủ đoạn gian dối ở đây được xác định là việc người thực hiện hành vi phạm tội đưa ra thông tin giả, thông tin sai sự thật nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra những thông tin đó có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng hành động …
Ví dụ như vụ án trên, Quân đã dùng lời nói để xây dựng lòng tin đối với nạn nhân, tin rằng Quân là một luật sư có thể giúp được nạn nhân trong vụ việc của mình nhưng sau khi nhận được tiền của nạn nhân Quân đã không thực hiện theo những gì mình đã cam kết.
Thời điểm hoàn thành tội phạm này được xác định từ lúc người phạm tội đã chiếm giữ được tài sản sau khi đã dùng thủ đoạn gian dối để làm cho người chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản tin và giao tài sản cho người phạm tội.
Như vậy, dấu hiệu bắt buộc của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản. Nếu có hành vi gian dối mà không có hành vi chiếm đoạt (chỉ chiếm giữ hoặc sử dụng), thì tùy từng trường hợp cụ thể mà người có hành vi gian dối trên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép hoặc tội sử dụng trái phép tài sản.
Thứ hai, để thỏa mãn điều kiện xác định có phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không còn cần xét đến yếu tố giá trị tài sản chiếm đoạt. Theo đó, giá trị tài sản chiếm đoạt theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017 được quy định như sau: Tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng thì phải thuộc trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xoá án tích mà còn vi phạm thì người thực hiện hành vi nêu trên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này.
2.2, Các khung hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khung 1: Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Khung 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Dùng thủ đoạn xảo quyệt.
Khung 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
Khung 4: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
3, Mức phạt hành chính đối với hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Trường hợp hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chưa đủ các điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 thì người có hành vi vi phạm sẽ bị xử phạt hành chính.
Theo điểm c khoản 1 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác.
Ngoài ra, hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn phải chịu hình phạt bổ sung và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả được quy định tại khoản 3 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP:
- Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính
- Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng để quyết định áp dụng hình thức xử phạt trục xuất đối với người nước ngoài thực hiện hành vi vi phạm hành chính
Và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.
Trong bối cảnh các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, việc hiểu rõ quy định pháp luật và nhận diện dấu hiệu gian dối là yếu tố then chốt để bảo vệ tài sản và quyền lợi của chính mình. Mỗi người dân cần thận trọng khi giao dịch tiền bạc, đặc biệt với những đối tượng chưa rõ danh tính, nội dung sự việc. Chủ động phòng ngừa chính là biện pháp hiệu quả nhất để không trở thành nạn nhân của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Vì Chân Lý Themis gửi tới quý khách hàng. Mong rằng nội dung trên sẽ giúp ích được cho quý khách hàng. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ cho Luật Vì Chân Lý Themis theo thông tin dưới đây.
-PT-
MỌI THẮC MẮC KHÁCH HÀNG VUI LÒNG LIÊN HỆ TỚI
FB: LUATSUTHANHDAT
ZALO: 03.2518.2518
CS1: PHÒNG 201, SỐ 170 TRẦN DUY HƯNG, P.YÊN HOÀ, TP HÀ NỘI
CS2: PHÒNG 1936, TÒA HH4C, KĐT LINH ĐÀM, PHƯỜNG HOÀNG LIỆT, HÀ NỘI