1. Uỷ quyền là gì?
Ủy quyền là việc thỏa thuận của các bên theo đó bên được ủy quyền sẽ có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền.
Ủy quyền là một trong hai hình thức đại diện theo quy định của pháp luật được ghi nhận tại Điều 135 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (gọi là đại diện theo ủy quyền) hoặc theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (gọi chung là đại diện theo pháp luật).
Hình thức ủy quyền hiện nay được thể hiện gián tiếp tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật Dân sự 2015 về thời hạn đại diện, cụ thể: Thời hạn đại diện được xác định theo văn bản ủy quyền, theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật.
Theo quy định nêu trên, pháp luật vẫn ghi nhận hình thức ủy quyền bằng văn bản nhưng cũng không quy định việc ủy quyền không được thể hiện bằng hình thức khác.
2. Một số trường hợp không được uỷ quyền
2.1. Đăng ký kết hôn
Khoản 1 Điều 18 Luật Hộ tịch quy định về thủ tục đăng ký kết hôn nêu rõ, hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.
Hôn nhân là quan hệ dựa trên sự tự nguyện của các bên, do đó, trong quá trình đăng ký kết hôn, cán bộ tư pháp sẽ xác định được hai người có thực sự tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau không.
Theo quy định này, khi làm thủ tục đăng ký kết hôn, hai vợ chồng phải cùng có mặt và sau đó, cùng ký tên vào Sổ hộ tịch, giấy chứng nhận kết hôn. Sau khi thực hiện xong việc ký tên vào giấy đăng ký kết hôn, sổ hộ tịch nam nữ mới được công nhận có quan hệ hôn nhân và gia đình hợp pháp.
Do đó, nam, nữ không thể uỷ quyền cho người khác mà phải tự mình có mặt tại Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cấp huyện để thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định.
2.2. Ly hôn
Tương tự như đăng ký kết hôn, ly hôn cũng là một trong các trường hợp không được uỷ quyền bởi khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nêu rõ, đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện.
Theo quy định này, trong khi giải quyết ly hôn, khi tham gia tố tụng (tham gia phiên họp công nhận thuận tình ly hôn hoặc phiên toà giải quyết ly hôn đơn phương), vợ chồng không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia. Đồng nghĩa, vợ chồng bắt buộc phải có mặt tại phiên toà hoặc phiên họp nhưng không có nghĩa không thể có luật sư, người đại diện khác cùng tham gia quá trình tố tụng.
Đặc biệt, theo quy định này, vợ chồng chỉ không được uỷ quyền khi tham gia tố tụng mà các giai đoạn khác của thủ tục ly hôn hoàn toàn có thể uỷ quyền cho người khác như uỷ quyền để: Nộp đơn ly hôn, nộp tạm ứng án phí, nộp án phí…
Tuy nhiên vẫn có một số trường hợp ngoại lệ đặc biệt đương sự không cần phải có mặt như:
- Một trong hai bên có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Trong trường hợp này, Toà án sẽ căn cứ vào tài liệu, hồ sơ, giấy tờ đã có để xét xử.
- Cha, mẹ, người thân thích khác là người đại diện tại phiên toà khi họ là người yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn vì một bên vợ, chồng bị tâm thần hoặc mắc bệnh khác không thể nhận thức, làm chủ hành vi của mình và là nạn nhân bạo lực gia đình do người còn lại gây ra.
2.3. Gửi tiền tiết kiệm tại các tổ chức tín dụng
Khoản 1 Điều 12 Thông tư 48/2018/TT-NHNN quy định về gửi tiết kiệm nêu rõ:
“Người gửi tiền phải trực tiếp đến địa điểm giao dịch của tổ chức tín dụng và xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền; trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm chung, tất cả người gửi tiền phải trực tiếp xuất trình Giấy tờ xác minh thông tin của mình. Trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật, người đại diện theo pháp luật phải xuất trình giấy tờ chứng minh tư cách đại diện của người đại diện theo pháp luật, Giấy tờ xác minh thông tin của người đại diện theo pháp luật và Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền.”
Theo quy định này, việc gửi tiết kiệm chỉ được thực hiện từ chính người có tiền gửi tiết kiệm hoặc từ người đại diện theo pháp luật của người đó mà không uỷ quyền cho người khác làm thay được.
2.4. Công chứng di chúc của mình
Việc công chứng di chúc là một trong các thủ tục bắt buộc người lập di chúc phải tự thực hiện. Bởi khoản 1 Điều 58 Luật Công chứng 2024 nêu rõ, người lập di chúc không được ủy quyền cho người khác mà phải tự mình ký hoặc ký và điểm chỉ vào bản di chúc được công chứng. Trường hợp người lập di chúc không ký được và không điểm chỉ được thì việc lập di chúc phải có người làm chứng theo quy định tại khoản 2 Điều 49 của Luật này.
Bởi di chúc là ý nguyện của người có tài sản nhằm để lại di sản cho người khác sau khi chết. Do đó, khi thực hiện thủ tục công chứng di chúc, Công chứng viên cần phải xem xét trạng thái tinh thần, ý nguyện của người lập di chúc.
Bởi vậy, người này bắt buộc phải tự mình yêu cầu công chứng di chúc để đảm bảo đúng quy định các điều kiện để di chúc có hiệu lực pháp luật.
2.5. Cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2
Khoản 2 Điều 46 Luật lý lịch tư pháp 2009 quy định, trường hợp cá nhân yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì không được ủy quyền cho người khác làm thủ tục cấp Phiếu lý lịch tư pháp.
Theo đó, nếu yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp số 2 thì cá nhân không được uỷ quyền cho người khác làm thay thủ tục này.
2.6. Các trường hợp khác
- Chủ đầu tư dự án bất động sản không được ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác ký hợp đồng đặt cọc, mua bán, chuyển nhượng, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng, quyền sử dụng đất đã có hạ tầng kỹ thuật trong dự án bất động sản theo khoản 4 Điều 17 Luật kinh doanh bất động sản 2023
- Người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba khi thực hiện thủ tục tố tụng hành chính theo khoản 5 Điều 60 Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
- Chủ tịch, thành viên khác của Hội đồng quản trị không được ủy quyền cho người không phải là thành viên Hội đồng quản trị thực hiện quyền, nghĩa vụ của Chủ tịch, thành viên khác của Hội đồng quản trị theo khoản 6 Điều 87 Luật các tổ chức tín dụng 2023.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của Luật Vì Chân Lý Themis gửi tới quý khách hàng. Mong rằng nội dung trên sẽ giúp ích được cho quý khách hàng. Nếu quý khách hàng còn vướng mắc cần giải đáp vui lòng liên hệ cho Luật Vì Chân Lý Themis theo thông tin dưới đây.
-ĐH-
MỌI THẮC MẮC KHÁCH HÀNG VUI LÒNG LIÊN HỆ TỚI
HOTLINE: 19006196
FB: LUATSUTHANHDAT
ZALO: 03.2518.2518
CS1: PHÒNG 201, SỐ 170 TRẦN DUY HƯNG, P. YÊN HÒA, TP HÀ NỘI
CS2: PHÒNG 1936, TÒA HH4C, KĐT LINH ĐÀM, NGUYỄN HỮU THỌ, HOÀNG MAI, HÀ NỘI