Từ ngày 01/01/2026, hệ thống bảng giá đất mới được áp dụng thống nhất trên cả nước theo Luật Đất đai 2024, đánh dấu việc bãi bỏ hoàn toàn “khung giá đất” cố định trước đâyCùng với đó, Nghị quyết 254/2025/QH15 của Quốc hội (hiệu lực 1/1/2026) đưa ra một số cơ chế, chính sách tháo gỡ vướng mắc khi thi hành Luật Đất đai – nổi bật là giảm mạnh tiền sử dụng đất khi chuyển đất vườn, ao sang đất ở và cơ chế thu hồi đất mới nhằm đẩy nhanh triển khai dự án. Những thay đổi pháp lý này tạo ra bước ngoặt quan trọng, tác động trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân sử dụng đất cũng như định hướng tương lai của thị trường bất động sản.
Bối cảnh chính sách: Bỏ khung giá đất, bảng giá đất hằng năm tiệm cận thị trường
Chính thức bãi bỏ quy định khung giá đất – vốn là mức giá tối thiểu/tối đa do Chính phủ ban hành 5 năm một lần. Trên thực tế, cơ chế khung giá cố định này khiến giá đất Nhà nước và giá thị trường vênh nhau gấp nhiều lần, tạo nên tình trạng “2 giá đất” kéo dài, gây thất thu ngân sách và bất cập trong bồi thường giải phóng mặt bằng. Việc bỏ khung giá giúp xóa bỏ cơ chế hai giá này, giá đất Nhà nước sẽ dần sát giá thị trường phổ biến, qua đó tăng tính minh bạch và công bằng trong quản lý đất đai.

Thay cho khung giá, mỗi địa phương sẽ xây dựng Bảng giá đất cập nhật hằng năm (thay vì chu kỳ 5 năm như trước). Hội đồng Nhân dân cấp tỉnh quyết định bảng giá đất áp dụng từ ngày 1/1 mỗi năm và có thể điều chỉnh khi cần để phù hợp biến động thực tế. Bảng giá đất mới xác định giá chi tiết đến từng khu vực, từng thửa đất theo nguyên tắc tiệm cận giá giao dịch phổ biến trên thị trường. Cách tiếp cận này thu hẹp khoảng cách giữa giá Nhà nước và giá thị trường, dần xóa bỏ cơ chế “hai giá” vốn gây nhiều hệ lụy (như thất thu thuế, đầu cơ trục lợi, khiếu nại về bồi thường).
Các địa phương đã gấp rút xây dựng bảng giá đất lần đầu theo Luật mới, với mặt bằng giá nhìn chung tăng đáng kể so với trước. Theo đánh giá chuyên môn, nhiều nơi giá đất 2026 tăng bình quân 20-40% so với bảng giá cũ, thậm chí một số vị trí đắc địa tăng cao hơn. Tại Hà Nội và TP.HCM, HĐND đã thông qua bảng giá đất mới với mức giá đất ở đô thị cao nhất xấp xỉ 700 triệu đồng/m² ở các quận trung tâm (tăng khoảng 1,5 lần so với khung giá cũ). Ở Đà Nẵng, chính quyền thậm chí đưa ra 2 phương án giá đất: phương án ban đầu theo tư vấn và phương án giảm 20% so với kết quả đó để “tránh sốc”, cân bằng tăng thu ngân sách với giảm gánh nặng tài chính cho dân và thu hút đầu tư. Dù chọn phương án giảm, bảng giá Đà Nẵng mới vẫn tăng bình quân đáng kể so với hiện hành, đặc biệt tại vùng ven đô thị hóa nhanh (các xã Hòa Vang, Hòa Tiến tăng cao nhất). Nhìn chung, bảng giá đất 2026 sẽ tiệm cận hơn giá thị trường BĐS, giúp nâng cao minh bạch, hạn chế thất thu ngân sách và đầu cơ. Tuy nhiên, trong ngắn hạn, chi phí đầu tư của doanh nghiệp BĐS có thể tăng, tạo áp lực lên giá bán/giá thuê nhà ở. Các chuyên gia khuyến nghị địa phương triển khai giá đất mới theo lộ trình phù hợp, tránh gây “sốc giá”, đồng thời kiểm soát đầu cơ để thị trường phát triển ổn định, bền vững.
Bảng giá đất được áp dụng vào những trường hợp nào? Theo khoản 1 Điều 159 Luật Đất đai 2024, bảng giá đất là căn cứ tính hầu hết các nghĩa vụ tài chính về đất đai của hộ gia đình, cá nhân. ví dụ: tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước công nhận đất ở cho hộ gia đình, cá nhân hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của họ; tính tiền thuê đất trả hàng năm (trừ trường hợp thuê qua đấu giá); tính thuế sử dụng đất, thuế thu nhập khi chuyển nhượng; tính lệ phí trước bạ, phí địa chính; tính tiền phạt vi phạm hành chính về đất đai; tính tiền bồi thường cho Nhà nước khi gây thiệt hại; làm căn cứ xác định giá khởi điểm đấu giá quyền sử dụng đất đã có hạ tầng; v.v. Nói cách khác, đại bộ phận giao dịch và nghĩa vụ tài chính của người dân sẽ tính theo bảng giá đất. Chỉ một số trường hợp đặc thù mới cần định “giá đất cụ thể” (giá thẩm định riêng cho từng thửa) – chẳng hạn: khi Nhà nước giao đất có thu tiền hoặc cho thuê đất trả tiền một lần cho doanh nghiệp làm dự án; hoặc khi tính tiền bồi thường giải phóng mặt bằng cho dự án công (cần sát giá thị trường tại thời điểm thu hồi). Tuy nhiên, Nghị quyết 254/2025/QH15 đã mở rộng việc áp dụng bảng giá đất cho mọi đối tượng: nghị quyết quy định các nghĩa vụ tài chính về đất khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất… cho cả tổ chức, doanh nghiệp cũng sẽ căn cứ bảng giá đất, ngoại trừ một số ít trường hợp luật định phải định giá riêng. Việc này nhằm đơn giản hóa tính tiền sử dụng/tiền thuê đất, minh bạch và rút ngắn thủ tục so với trước đây khi doanh nghiệp phải chờ định giá cụ thể cho từng dự án. Như vậy, có thể nói bảng giá đất mới sẽ là cơ sở chung cho hầu hết người sử dụng đất (cả cá nhân lẫn doanh nghiệp) thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
Lợi ích và nghĩa vụ của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khi được giao đất, cấp sổ lần đầu hoặc chuyển mục đích sử dụng đất
Việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc cho phép chuyển mục đích sử dụng mang lại cho người sử dụng đất những quyền lợi gắn liền với đất đai, đồng thời kèm theo nghĩa vụ tài chính và trách nhiệm pháp lý nhất định. Dưới đây phân tích cụ thể theo từng đối tượng và trường hợp:
Đối với doanh nghiệp, tổ chức được Nhà nước giao đất để thực hiện dự án
Quyền lợi: Doanh nghiệp được Nhà nước giao đất (có thu tiền sử dụng đất) hoặc cho thuê đất để đầu tư dự án sẽ có quyền sử dụng đất hợp pháp trong thời hạn được giao/thuê. Họ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) cho diện tích đất dự án, qua đó được thế chấp, góp vốn, chuyển nhượng quyền sử dụng đất (theo điều kiện luật định) và được khai thác lợi ích từ đất (xây dựng công trình, kinh doanh dự án) trong phạm vi mục đích được giao. Nếu trả tiền thuê đất một lần cho cả kỳ hạn hoặc nộp tiền sử dụng đất, doanh nghiệp có quyền gần như sở hữu: có thể bán, cho thuê lại tài sản gắn liền với đất, thế chấp quyền sử dụng đất... theo luật cho phép. Việc được giao đất phục vụ dự án còn thường kèm theo ưu đãi về tiếp cận đất đai (ví dụ: giao đất sạch đã giải phóng mặt bằng), tạo thuận lợi cho doanh nghiệp triển khai nhanh dự án.
Nghĩa vụ: Trước hết, doanh nghiệp phải nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất theo quy định. Mức tiền này hiện được xác định dựa trên bảng giá đất (với trường hợp thuê đất trả tiền hàng năm) hoặc theo giá đất cụ thể/bảng giá (với trường hợp giao đất, thuê trả một lần) – và như đề cập, NQ 254 cho phép dùng bảng giá đất để tính cho cả doanh nghiệp. Do bảng giá mới tiệm cận giá thị trường, chi phí đất mà doanh nghiệp phải đóng có thể tăng lên so với trước đây. Ngoài ra, doanh nghiệp phải chấp hành đúng mục đích sử dụng đất được giao, đầu tư xây dựng đúng tiến độ. Luật Đất đai 2024 yêu cầu người được giao/thuê đất thực hiện dự án phải có năng lực tài chính, ký quỹ bảo đảm và không vi phạm pháp luật đất đai tại thời điểm xin giao đất/chuyển mục đích. Nếu doanh nghiệp chậm đưa đất vào sử dụng, để hoang hóa quá thời hạn luật định, Nhà nước có quyền thu hồi đất hoặc áp dụng chế tài. Doanh nghiệp cũng có nghĩa vụ bảo vệ, không hủy hoại đất, tuân thủ quy hoạch, môi trường, và thực hiện đầy đủ các khoản thuế, phí liên quan (như thuế sử dụng đất phi nông nghiệp hàng năm, thuế thu nhập doanh nghiệp khi chuyển nhượng dự án đất...).
Lưu ý: Khi chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư, doanh nghiệp phải đáp ứng điều kiện pháp lý tương tự như khi giao đất mới. Cụ thể, nếu doanh nghiệp nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp của dân rồi xin chuyển sang đất ở để làm dự án, pháp luật đòi hỏi: dự án phải phù hợp quy hoạch, có quyết định chủ trương đầu tư, doanh nghiệp phải có quyền sử dụng đất hợp pháp (đã nhận chuyển nhượng đủ diện tích), và phải nộp tiền sử dụng đất bằng chênh lệch giá đất sau-trước khi chuyển mục đích. Đây cũng chính là tiền sử dụng đất dự án – một khoản tài chính rất lớn, lâu nay được coi là “ẩn số” với doanh nghiệp BĐS. Với cơ chế mới, tiền sử dụng đất dự án sẽ tính từ bảng giá đất thay vì qua định giá thủ công, giúp doanh nghiệp dự tính trước nghĩa vụ tài chính dễ dàng hơn. Tuy nhiên, do bảng giá cao hơn trước, khoản tiền này cũng sẽ tăng, đòi hỏi doanh nghiệp chuẩn bị nguồn vốn nhiều hơn và có thể làm giá thành bất động sản tăng theo. Doanh nghiệp có trách nhiệm nộp đầy đủ khoản tiền này; nếu chậm nộp sẽ bị tính phạt chậm nộp theo luật quản lý thuế.
Đối với cá nhân, hộ gia đình được cấp sổ đỏ lần đầu hoặc chuyển mục đích sử dụng đất
Quyền lợi: Khi cá nhân/hộ gia đình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu (thường gọi là “cấp sổ đỏ”), họ chính thức được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp. Quyền lợi quan trọng nhất là người dân có đầy đủ quyền của người sử dụng đất theo luật: được bảo vệ khi có tranh chấp, được chuyển nhượng, tặng cho, thừa kế, thế chấp, cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, v.v. Đất có sổ đỏ cũng đồng nghĩa giá trị tăng lên, dễ dàng giao dịch trên thị trường và được ngân hàng chấp nhận để vay vốn. Nếu Nhà nước thu hồi đất, người có sổ sẽ được bồi thường, hỗ trợ tái định cư thỏa đáng theo giá thị trường (Luật mới cũng mở rộng hình thức bồi thường linh hoạt: có thể nhận bằng tiền, bằng nhà hoặc bằng đất khác tương đương giá trị, thay vì chỉ bằng đất tương ứng như trước đây. Trường hợp được Nhà nước giao đất ở (ví dụ hộ dân tái định cư), người dân có thể được miễn giảm tiền sử dụng đất trong hạn mức theo chính sách địa phương, và sau khi hoàn thành nghĩa vụ tài chính sẽ được cấp sổ đỏ để ổn định cuộc sống.
Chuyển mục đích sử dụng đất (cá nhân): Đây là trường hợp phổ biến khi người dân xin chuyển đất vườn, đất nông nghiệp sang đất ở (thổ cư) để xây nhà hoặc hợp thức hóa đất ở. Quyền lợi của người dân sau khi chuyển mục đích là giá trị đất tăng cao, đất ở được xây dựng nhà cửa, có sổ đỏ đất ở nên giao dịch thuận tiện. Tuy nhiên, để được chuyển mục đích, cá nhân phải xin phép cơ quan chức năng (trừ trường hợp luật cho phép miễn phép với một số diện tích nhỏ nằm xen kẹt trong thửa ở). Đất chuyển từ đất trồng lúa, đất rừng... còn đòi hỏi UBND cấp tỉnh thông qua nghị quyết đồng ý chuyển đổi, đảm bảo không phá vỡ quy hoạch và điều kiện chặt chẽ về bảo vệ tài nguyên. Nghĩa vụ tài chính khi chuyển mục đích rất đáng lưu ý: Người dân phải nộp tiền sử dụng đất tính trên chênh lệch giá trị giữa loại đất mới và loại đất cũ. Trước năm 2026, thông thường khi chuyển lên đất ở, hộ gia đình phải nộp 100% khoản chênh lệch này (tức gần bằng mua đất từ Nhà nước). Với giá đất mới tăng cao, gánh nặng tài chính này là rất lớn – “rào cản” cho nhiều hộ muốn lên thổ cư. Hiểu được vướng mắc đó, Nghị quyết 254/2025/QH15 đã giảm sâu tiền sử dụng đất khi chuyển mục đích đối với đất vườn, ao gắn liền với đất ở của dân. Cụ thể, từ 1/1/2026, người dân chỉ phải nộp 30% phần chênh lệch giữa giá đất ở và giá đất nông nghiệp cho diện tích trong hạn mức đất ở, 50% cho diện tích vượt hạn mức (nhưng không quá 1 lần hạn mức), và 100% cho phần diện tích vượt trên 1 lần hạn mức. Quy định này thực chất giảm 70% tiền sử dụng đất so với trước đây (với diện tích trong hạn mức), giảm 50% với phần vượt hạn mức vừa phải – giúp hộ gia đình, cá nhân giảm gánh nặng tài chính, thuận lợi chuyển đất ở. Bảng dưới đây tóm tắt mức thu tiền sử dụng đất khi chuyển đất vườn, ao sang đất ở theo quy định cũ và mới:
|
Diện tích chuyển mục đích
|
Trước 1/1/2026 (quy định cũ)
|
Từ 1/1/2026 (NQ 254/2025/QH15)
|
|
Trong hạn mức giao đất ở của địa phương
|
Nộp 100% chênh lệch giá đất ở - giá đất nông nghiệp
|
Nộp 30% chênh lệch giá đất ở - giá đất nông nghiệp
|
|
Phần vượt hạn mức (đến <= 1 lần hạn mức)
|
100%
|
50% chênh lệch (phần vượt)
|
|
Phần vượt quá 1 lần hạn mức
|
100%
|
100% chênh lệch (không được giảm)
|
|
(Mỗi hộ gia đình, cá nhân chỉ được hưởng ưu đãi giảm một lần trên 1 thửa đất)
|
–
|
Áp dụng một lần duy nhất
|
Tóm lại, hộ gia đình, cá nhân khi được Nhà nước cấp giấy chứng nhận hoặc cho phép chuyển mục đích sẽ được hưởng đầy đủ quyền lợi về sử dụng và định đoạt đất đai, giúp họ bảo vệ tài sản, gia tăng giá trị đất và ổn định cuộc sống. Đổi lại, họ phải thực hiện nghĩa vụ tài chính một lần (tiền sử dụng đất, lệ phí) và trách nhiệm lâu dài (đóng thuế hàng năm, sử dụng đúng mục tiêu, chấp hành pháp luật đất đai). Với bảng giá đất mới, các khoản thuế, phí khi làm sổ đỏ, chuyển mục đích… đều tăng theo mặt bằng giá mới– dẫn tới rủi ro chi phí cao nếu bảng giá tăng đột biến. May mắn là NQ 254/2025/QH15 đã giảm bớt rủi ro này cho nhiều hộ dân có đất vườn ao, giúp họ giảm chi phí đến 70% khi hợp thức hóa đất ở. Do đó, nhìn chung người dân không phải lo “thuế/phí quá cao” ngoài khả năng, mà cần chủ động thực hiện thủ tục sớm để hưởng ưu đãi (vì mỗi hộ chỉ được giảm một lần trên một thửa). Trường hợp không thuộc diện ưu đãi, cá nhân vẫn nên cân nhắc kế hoạch tài chính vì giá đất tăng sẽ kéo chi phí làm sổ, chuyển mục đích tăng tương ứng.
Tác động của bảng giá đất mới và Nghị quyết 254/2025/QH15 đối với doanh nghiệp đầu tư dự án
Đối với doanh nghiệp bất động sản, việc áp dụng bảng giá đất mới cùng các chính sách trong NQ 254 sẽ mang lại cả cơ hội lẫn thách thức:
-
Chi phí đất đai tăng: Bảng giá đất 2026 tăng 20-40% ở nhiều nơi chắc chắn làm chi phí đầu vào của doanh nghiệp BĐS tăng trong ngắn hạn. Cụ thể, những doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ đang thuê đất trả tiền thuê hàng năm sẽ chịu áp lực tăng chi phí thuê đất do giá đất tính thuế, tính tiền thuê đều tăng (đặc biệt tại khu vực mà bảng giá điều chỉnh tăng mạnh). Các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, bất động sản du lịch… cũng sẽ phải trả tiền thuê đất cao hơn khi Nhà nước điều chỉnh đơn giá thuê theo bảng giá mới (dù theo luật, đơn giá thuê thường ổn định trong chu kỳ 5 năm một lần). Đối với doanh nghiệp phát triển dự án nhà ở thương mại, tiền sử dụng đất dự án – vốn là khoản chi phí lớn – nay được xác định chủ yếu dựa trên bảng giá đất (hoặc hệ số điều chỉnh) thay vì quy trình thẩm định giá phức tạp. Điều này đơn giản hóa, rút ngắn quá trình tính tiền sử dụng đất, giúp doanh nghiệp nhanh có quyết định tài chính để triển khai dự án. Tuy nhiên, do bỏ khung giá trần, tiền sử dụng đất Nhà nước thu sẽ tiệm cận giá thị trường hơn, nghĩa là doanh nghiệp có thể phải nộp nhiều tiền hơn so với trước (khi khung giá kìm mức trần). Một tính toán cho thấy, với bảng giá mới, để không lỗ, một số doanh nghiệp buộc phải tính giá bán căn hộ cao hơn trước (vì tiền đất chiếm tỷ trọng lớn). Áp lực chi phí này có thể khiến giá bán bất động sản tăng, ảnh hưởng người mua nhà và thanh khoản thị trường.
-
Minh bạch và dự báo tốt hơn: Ở chiều tích cực, việc công khai bảng giá đất hằng năm giúp doanh nghiệp dễ dự báo nghĩa vụ tài chính khi lập kế hoạch đầu tư. Thay vì chờ định giá từng dự án (có thể mất hàng năm và thiếu minh bạch), doanh nghiệp có thể tạm tính chi phí đất từ bảng giá niêm yết, giảm rủi ro “chi phí ẩn” và hạn chế tiêu cực, nhũng nhiễu trong khâu định giá đất trước đây. Bảng giá đất sát thị trường cũng tạo mặt bằng giá thống nhất, tránh tình trạng mỗi dự án một giá đất cụ thể chênh lệch vô lý, gây bất bình đẳng. Về dài hạn, tính minh bạch, công bằng này sẽ giúp doanh nghiệp làm ăn bài bản yên tâm đầu tư, còn doanh nghiệp nào trước đây trông chờ hưởng lợi từ “đất công giá rẻ” sẽ phải thay đổi chiến lược.
-
Thuận lợi hơn trong giải phóng mặt bằng: Nghị quyết 254/2025/QH15 đưa ra cơ chế thu hồi đất theo tỷ lệ đồng thuận 75%: Nếu nhà đầu tư đã thỏa thuận nhận chuyển nhượng >=75% diện tích đất và >=75% số hộ dân trong dự án nhưng còn một số ít không thể thỏa thuận, thì HĐND cấp tỉnh được phép thông qua việc Nhà nước thu hồi phần đất còn lại giao cho nhà đầu tư. Đây là điểm đột phá tháo gỡ điểm nghẽn “xôi đỗ” kéo dài bấy lâu – nhiều dự án đô thị, khu dân cư bị treo do vài hộ “cứng”, đòi giá quá cao. Nay với ngưỡng 75%, doanh nghiệp có cơ sở pháp lý để đề nghị Nhà nước can thiệp, đảm bảo dự án không bị đình trệ vô thời hạn. Tất nhiên, doanh nghiệp vẫn phải thỏa thuận tự nguyện tối đa với người dân trước; chỉ khi quá 75% diện tích đã mua mà phần còn lại bế tắc, mới được áp dụng cơ chế cưỡng chế nốt. Cơ chế này được kỳ vọng đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, nhà đầu tư sớm có đất sạch triển khai, đồng thời người dân đa số được thỏa thuận giá cao, chỉ một số rất ít phải chấp nhận giá bồi thường Nhà nước (mà giá này nhờ bảng giá mới cũng tiệm cận thị trường hơn trước, đảm bảo không quá thiệt). Ngoài ra, NQ 254 còn cho phép Nhà nước thu hồi đất để tạo quỹ đất thanh toán dự án BT (xây dựng-chuyển giao) và thu hồi trong trường hợp doanh nghiệp nhà nước sử dụng đất bị thu hồi nhưng cần thuê đất khác để tiếp tục SXKD – những tình huống chưa được luật cũ quy định rõ. Điều này giúp hoàn thiện khung pháp lý, hỗ trợ doanh nghiệp triển khai dự án hạ tầng, PPP thuận lợi hơn.
-
Điều chỉnh thời hạn và phương thức thuê đất linh hoạt: Một nội dung khác của NQ 254 có lợi cho doanh nghiệp là mở rộng quyền lựa chọn hình thức trả tiền thuê đất. Luật Đất đai 2024 giới hạn chỉ 3 trường hợp được trả tiền thuê một lần, còn lại phải thuê trả hàng năm. Nhưng NQ 254 cho phép người thuê đất (trừ một vài trường hợp đặc thù) được tùy chọn trả tiền một lần cho cả thời hạn hoặc trả hàng năm tùy nhu cầu. Như vậy, doanh nghiệp có thể chủ động phương án tài chính: nếu muốn có quyền thế chấp đất để vay vốn, họ chọn trả tiền một lần; nếu muốn giảm áp lực vốn ban đầu, họ chọn trả tiền hàng năm. Thêm nữa, NQ 254 và Luật Đầu tư 2025 cũng giải quyết tình huống dự án đầu tư chuyển nhượng có thời hạn đất còn lại quá ngắn: cho phép cơ quan có thẩm quyền gia hạn thời hạn sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng dự án (tới tối đa 50 năm ngoài KKT, 70 năm trong KKT) nếu đáp ứng các điều kiện (đã có sổ đỏ, đã thực hiện nghĩa vụ tài chính…). Doanh nghiệp nhận M&A dự án nhờ đó an tâm hơn vì quỹ thời gian triển khai được điều chỉnh phù hợp kế hoạch kinh doanh, thay vì bị “mua trúng dự án sắp hết đất”.
Góc nhìn nhà đầu tư: Thị trường bất động sản sắp tới sẽ ra sao?
Với những thay đổi bước ngoặt về chính sách đất đai, thị trường bất động sản Việt Nam từ 2026 được dự báo sẽ không còn những cơn “sốt nóng” ảo toàn diện như giai đoạn trước, thay vào đó là sự phân hóa và tăng trưởng ổn định hơn. Các chuyên gia nhận định giá đất Nhà nước tăng lên sẽ làm giảm tình trạng đầu cơ, thổi giá dựa vào kẽ hở chênh lệch giá trước đây. Người đầu tư sẽ phải cân nhắc kỹ hơn, không còn dễ dàng mua đất giá thấp rồi chờ hạ tầng để được đền bù giá cao – bởi nay bảng giá đã sát thị trường, lợi nhuận từ chênh lệch chính sách sẽ giảm. Thị trường do đó sẽ “sàng lọc” các nhà đầu tư: những người sử dụng đòn bẩy lớn, lướt sóng ngắn hạn có thể chùn bước vì chi phí giao dịch (thuế, phí) cao hơn và không còn kỳ vọng tăng giá ảo, trong khi nhà đầu tư dài hạn, dự án giá trị thực sẽ hấp dẫn dòng tiền hơn. Một bài phân tích thị trường dự báo năm 2026 không còn tăng trưởng quá nóng, dòng vốn sẽ chuyển sang các dự án đáp ứng giá trị thực, pháp lý hoàn chỉnh – tức là các sản phẩm bất động sản phục vụ nhu cầu ở/thương mại thật sẽ lên ngôi, thay vì đất nền phân lô bán theo tin đồn.
Ở các đô thị lớn như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, bảng giá đất mới sẽ tạo mặt bằng giá đất cao hơn, kéo theo chi phí phát triển dự án đô thị tăng. Điều này có thể làm giá bất động sản tại trung tâm duy trì ở mức cao, người mua để ở có thể dịch chuyển sự quan tâm sang vùng ven có giá hợp lý hơn. Thực tế, giới đầu tư đã và đang dịch chuyển dòng vốn về vùng giáp ranh, vùng ven đô thị lớn – nơi quỹ đất còn dồi dào và giá đất (dù tăng) vẫn mềm hơn trung tâm. Trong trung hạn, thị trường sẽ tái cân bằng: giá đất tăng do chính sách sẽ được hấp thụ dần, thiết lập mặt bằng giá mới phản ánh đúng giá trị. Các chuyên gia đánh giá bảng giá đất mới khó gây “cú sốc” tức thì, mà tác động dần dần, định hình lại mặt bằng chi phí và giá trị đất trong trung-dài hạn. Đây là một bước trong quá trình cơ cấu lại thị trường BĐS theo hướng minh bạch, bền vững hơn.
Về nguồn cung, Luật Đất đai 2024 cùng loạt luật liên quan (Nhà ở, Kinh doanh BĐS 2023) tạo hành lang pháp lý thông thoáng hơn cho phát triển dự án: thủ tục giao đất, chuyển mục đích rõ ràng, quyền của doanh nghiệp và nhà đầu tư nước ngoài được mở rộng (ví dụ: doanh nghiệp FDI được nhận chuyển nhượng đất trong KCN, được phát triển nhà ở thương mại trên đất nhận chuyển nhượng…). Những cải cách này được giới quan sát quốc tế đánh giá cao, vì nó thể hiện quyết tâm của Việt Nam trong việc minh bạch hóa thị trường, bảo vệ quyền lợi người sử dụng đất và thu hút đầu tư. Ngân hàng Thế giới và các tổ chức phát triển từng khuyến nghị Việt Nam loại bỏ sự méo mó do hai giá đất và cải thiện thủ tục đất đai – nay các bước đó đang được thực hiện, hứa hẹn nâng cao điểm số về tính minh bạch và môi trường kinh doanh trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Nhờ vậy, thị trường BĐS Việt Nam về dài hạn sẽ hấp dẫn hơn đối với dòng vốn FDI trong lĩnh vực công nghiệp, hạ tầng, logistics... khi bài toán thuê đất, đền bù giải tỏa được giải quyết trơn tru.
Tuy nhiên, trong ngắn hạn, thị trường BĐS có thể đối mặt một số thách thức: Giá đất tăng làm giá nhà ở thương mại có nguy cơ tăng, gây khó cho người mua cuối cùng và có thể kìm hãm thanh khoản nếu thu nhập người dân chưa theo kịp. Mặt khác, khi Nhà nước tăng thu từ đất (TP.HCM dự kiến tăng thu ngân sách từ tiền sử dụng đất, tiền thuê đất nhờ bảng giá mới, thì chi phí đầu vào dự án tăng có thể khiến một số dự án trì hoãn khởi công để chờ thị trường chấp nhận mức giá bán mới. Chi phí đền bù giải phóng mặt bằng cho các dự án hạ tầng công cũng tăng tương ứng, đòi hỏi Chính phủ phải bố trí ngân sách lớn hơn hoặc huy động PPP nhiều hơn, nếu không có thể làm chậm tiến độ đầu tư công. Do đó, cơ quan quản lý cần cân bằng lợi ích Nhà nước – doanh nghiệp – người dân: một mặt không để bảng giá quá thấp gây thất thu, mặt khác tránh đẩy giá lên quá nhanh gây sốc thị trường. Thực tế các địa phương như Đà Nẵng đã chọn phương án giảm 20% so với tính toán là để hài hòa lợi ích và duy trì ổn định kinh tế, thu hút đầu tư.
Luật sư Thành Đạt
|